Các dịch vụ:

* Đầu tư nước ngoài: 0937.029.368

* Quảng bá website để có nhiều khách hàng đến website của bạn hơn: Hotline: 0908 744 256 - 0917 212 969 - 08.8816 2969 (Mr Thanh), Email: [email protected] - [email protected]
Đầu tư nước ngoài

Khái niệm.

Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại được hiểu rẩt khác nhau. Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận. Thậm chí thuật ngữ này thường được sử dụng rộng rãi, như câu cửa miệng để nói lên chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.

Vậy đầu tư theo đúng nghĩa của nó là gì? Những đặc trưng nào quyết định một hoạt động được gọi là đầu tư? Mặc dù vẫn còn có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng có thể đưa ra một khái niệm cơ bản về đầu tư được nhiều người thừa nhận, đó là “đầu tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, … vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận”. Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư. Chủ đầu tư có thể là các tổ chức, cá nhân và cũng thể là nhà nước.

Đầu tư nước ngoài



Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và độ rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu mọi hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội thì ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất – xã hội phát triển.

Qua hai đặc trưng trên cho thấy, rõ ràng mục đích của hoạt động đầu tư là lợi nhuận. Vì thế, cần hiểu rằng bất kỳ sự chi phí nào về thời gian, sức lực và tiền bạc vào một hoạt động nào đó mà không có mục đích thu lợi nhuận thì không thuộc về khái niệm về đầu tư.
Đầu tư nước ngoài.
Khái niệm:

Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.
Các hình thức đầu tư nước ngoài.
Theo tính chất quản lý:

Đầu tư trực tiếp (FDI-Foreign Direct Investment) và đầu tư gián tiếp (PFI-Portfolio Foreign Investment).

Đầu tư gián tiếp thường do Chính phủ các nước, tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ của một nước cho một nước khác (thường là nước đang phát triển) vay vốn dưới nhiều hình thức viện trợ hoàn lại và không hoàn lại. Theo loại hình này bên nhận vốn có toàn quyền quyết định việc sử dụng vốn như thế nào để đạt được kết quả cao nhất, còn bên cho vay hoặc viện trợ không chịu rủi ro và hiệu quả vốn vay. Loại hình đầu tư này thường kèm theo điều kiện ràng buộc về kinh tế hay chính trị cho nước nhận vốn. Do vậy hình thức đầu tư này không chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư quốc tế, nó thường chỉ dùng cho các nước đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về vốn.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà trong đó các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quá trình sử dụng và thu hồi số vốn đầu tư bỏ ra.

FDI được thực hiện hai kênh chủ yếu: đầu tư mới (greenfield investment-GI) và mua lại&sát nhập (Mergers and Acquisitions-M&A). Đầu tư mới là các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh đầu tư chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Ngược lại, không giống như GI, M&A là các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh đầu tư này được thực hiện ở các nước phát triển, các nước mới công nghiệp hóa và rất phổ biến trong những năm gần đây. Ở Việt Nam, FDI được chủ yếu thực hiện theo kênh GI.

Đầu tư nước ngoài


Lĩnh vực đầu tư có điều kiện là lĩnh vực chỉ được thực hiện đầu tư với các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định.
Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại.
Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư.

FDI nói chung là việc các thương gia đưa vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý ra nước ngoài và khống chế nguồn vốn đầu tư trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh theo lĩnh vực đầu tư đó. Xuất phát từ nhu cầu truy tìm lợi nhuận cao và giành được tiếng nói hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư tiến hành đầu tư sang nước khác mà ở đó tập trung nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với việc đầu tư trong nước như tranh đoạt thị trường ở nước sở tại, tranh thủ các ưu đãi về đầu tư, tận dụng nguồn nhân công rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên… từ đó tối đa hóa lợi nhuận trên cùng một đồng vốn bỏ ra. Đối với các nước đang phát triển thì vấn đề vốn là hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong khi đó việc huy động nguồn vốn trong nước không phải là dễ dàng, lại càng không thể chỉ dựa vào sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên để tiến hành tích lũy tư bản, do đó vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói chỉ được phá vỡ khi các nước này mở của để thu hút đầu tư nước ngoài.

FDI được xem là chất xúc tác không thể thiếu nhằm làm cho nền kinh tế có được sự tăng trưởng cao. Tuy nhiên, việc thu hút FDI sẽ gặp không ít khó khăn khi các nước đang phát triển có cơ sở hạ tầng còn yếu kém, luật pháp còn nhiều cản trở … Do đó các quốc gia sẽ phải cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng hơn nữa tạo sự hấp dẫn hơn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.



Theo chiến lược đầu tư: Đầu tư mới và Mua lại & Sát nhập

- Đầu tư mới (Greenfield Investment): Là việc các chủ đầu tư thực hiện đầu tư mới ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới. Đây là kênh đầu tư truyền thống của FDI và cũng là kênh chủ yếu để các nhà đầu tư các nước phát triển đầu tư vào nước đang phát triển.

- Mua lại và sát nhập (Mergers and Accquistions): Là hình thức khi các chủ đầu tư thông qua việc mua lại và sát nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Kênh này chủ yếu ở các nước phát triển NICs (Các nước công nghiệp mới).
Đầu tư theo chiều dọc và đầu tư theo chiều ngang.

- Đầu tư theo chiều dọc (Vertical Intergration – Tích hợp dọc): Các nhà đầu tư đi chuyên sâu vào một hoặc một vài mặt hàng. Ở các loại mặt hàng này các nhà đầu tư sản xuất từ A đến Z. Đây là hình thức khi nhà đầu tư thực hiện đầu tư ra nước ngoài với mục đích khai thác nguồn nhiên liệu tự nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ (lao động, đất đai,…). Ưu điểm: Lợi nhuận cao vì lấy được ở tất cả các khâu nhưng rủi ro cao, thị trường không rộng.

- Đầu tư theo chiều ngang (Horizontal Intergration – Tích hợp ngang): Nhà đầu tư mở rộng và thôn tính thị trường nước ngoài cùng một loại sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở nước ngoài, hình thức này thường dẫn đến độc quyền. Theo hình thức này, nhà đầu tư tổ chức kinh doanh nhiều nhóm sản phẩm và hàng hóa trên phạm vi rộng. Hình thức này có ưu điểm rủi ro thấp nhưng lợi nhuận không cao.
Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 29/12/1987 và nhiều lần sửa đổi bổ sung cùng với một số lớn các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định: Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức:

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh

* Doanh nghiệp liên doanh

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là các bên hợp doanh) quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh tại Việt Nam mà không thành lập pháp nhân mới.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có sự tham gia hay bên hợp doanh là nước ngoài, hợp đồng này khác với các loại hợp đồng khác đó là nó phân chia kết quả kinh doanh và trách nhiệm cho các bên cụ thể được ghi trong hợp đồng, không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giao nhận sản phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phân chia lợi nhuận. Nội dung chính của hợp đồng này bao gồm:

- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh

- Sản phẩm chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm trong nước

- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh

- Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến độ thực hiện hợp đồng

Trong